[ĐẠO ĐỨC KINH HIỆN TẠI CÓ THỂ ĐÃ BỊ THAY ĐỔI NHIỀU SO VỚI BẢN GỐC]
Vào năm 1973, giới khảo cổ học tìm được hai bản Đạo Đức Kinh chép trên thẻ tre và trên lụa ở thôn Mã Vương Đôi (bản này đã được Gs. Vũ Thế Ngọc dịch và xuất bản gồm Hán – Hán Nôm – Việt – Anh), nhưng hai bản này chưa là văn bản cổ nhất của « Đạo Đức Kinh ». Vào mùa đông năm 1993, tổng cộng 804 thẻ tre (郭店楚簡), có niên đại từ thời ‘Chiến Quốc’ (475 – 221 TCN) đã được khai quật từ mộ số 1 của triều đại Sở tại làng Quách Điếm thuộc thành phố Kỷ Sơn, huyện Sa Dương, tỉnh Hồ Bắc. Trong đó có một phiên bản chưa từng được biết đến trước đây của Đạo Đức Kinh, tác phẩm nổi tiếng của Lão Tử1.



Sau bốn năm nghiên cứu cẩn thận bởi các chuyên gia Bảo tàng Kinh Môn, chúng được biên tập lần đầu bằng tiếng Trung vào năm 19942. 804 phiến tre này chắc chắn là một trong những khám phá văn hóa và khảo cổ học quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc gần đây, chỉ có thể so sánh với việc phát hiện ra đội quân đất nung và ngựa từ triều đại Tần gần Tây An. Một học giả nổi tiếng đã so sánh các thẻ tre Quách Điếm với Cuộn Sách Biển Chết về mức độ quan trọng, và ông cho rằng việc phát hiện ra chúng khiến cho “toàn bộ lịch sử triết học và học thuật Trung Hoa cổ đại sẽ phải được viết lại.” Đặc biệt là 71 thẻ tre Lão Tử (Lão Tử Trúc Giản – Lao Zi Guodian Bamboo Slips) – xuất hiện như một ánh sáng mới về mặt lịch sử – sẽ ít nhất làm tan một phần lớp sương mù hàng nghìn năm bao phủ Lão Tử và sẽ cho phép chúng ta tiếp cận gần hơn với nguồn suối văn hóa Trung Quốc này và nhìn rõ Lão Tử cùng những giáo lý của ông.
« Lão Tử Trúc Giản » (thẻ tre Lão Tử) là những phiên bản cổ nhất của Lão Tử cho đến nay. Sau này, chúng được Hoàng đế Lưu Khải (188 – 141 TCN) gọi là « Đạo Đức Kinh » – ‘Cuốn sách kinh điển về Đạo và Đức’ . Từ thế kỷ 19, cuốn sách này đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ với các tựa đề khác nhau như ‘Đạo Đức Kinh’ hoặc ‘Dao De King’. Các thẻ tre từ mộ Sở có niên đại trở về giữa thời kỳ Chiến Quốc, khoảng giữa thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Do đó chúng lâu đời hơn nhiều so với những « Văn bản Lụa » số 1 và 2 cổ nhất từng được biết đến (ký hiệu: S1 và S2; gộp lại: S3), được tìm thấy trong một ngôi mộ thuộc triều Tây Hán (206 – 24 trước Công nguyên) tại Mã Vương Đôi ở thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam vào năm 1973.
Trong lịch sử Trung Quốc có nhiều bản truyền thống của Lão Tử. Những bản có ảnh hưởng nhất là của Hà Thượng Công (ký hiệu: H4) và Vương Bật (ký hiệu: W5). Giải thích của Hà Thượng Công được coi là Đạo giáo chính thống và được sử dụng rộng rãi trong giới Đạo sĩ và học giả Đạo giáo. Bản của Vương Bật được phổ biến trong giới trí thức và quan lại. Việc so sánh « Lão Tử Trúc Giản » với các bản của H và W không chỉ cho thấy những khác biệt về hình thức, mà còn có một số khác biệt quyết định về nội dung.
Phần giới thiệu các chương và mục của « Lão Tử Trúc Giản » cũng khác với những bản trong H, W và các ấn bản khác. Văn bản của « Lão Tử Trúc Giản » không chỉ cổ hơn, mà còn nguyên bản hơn so với các phiên bản Lão Tử đã biết trước đây. Văn bản của H và W mỗi bản đều chứa hai phần: « Đạo Kinh » và « Đức Kinh ». Trái lại, « Lão Tử Trúc Giản » chứa ba nhóm; được phân định bằng A, B và C, đánh dấu số lượng các thẻ của mỗi nhóm. Nhóm A đầu tiên có 39 thẻ chứa 1087 ký tự, thứ hai là Nhóm B có 18 thẻ chứa 387 ký tự, bao gồm 2 ký tự trên thẻ B20 bị hư hỏng, và cuối cùng là Nhóm C thứ ba với 14 thẻ chứa 270 ký tự. Độ dài của các thẻ tre giúp ta dễ phân biệt ba nhóm. Do đó, có thể coi chúng như các phần của một cuốn sách, hay ba cuốn sách. Hơn nữa, các thẻ tre được chia thành 15 đoạn : Nhóm A chứa 7 đoạn, mỗi đoạn được ngăn khoảng trống, Nhóm B thứ hai chứa 4 đoạn, được ngăn cách bằng các chấm đen, và Nhóm C thứ ba có 4 đoạn, cũng được ngăn cách bằng các chấm đen. Trái lại, các bản Đạo Đức Kinh H và W chứa tổng cộng 81 chương mà không có bất kỳ sự phân chia nhỏ nào.
Thứ tự của ba cuốn sách như sau: Nhóm A đầu tiên bắt đầu với chương 19 trong H và W, Nhóm B thứ hai bắt đầu với chương 59 trong H và W, Nhóm C thứ ba với chương 17 trong H và W.
- Nhóm A (thẻ tre dài tầm 32,3cm) bao gồm các chương 19, 66, 46 (một phần của chương này), 30 (một phần của chương này), 15, 64 (một phần của chương này), 37, 63, 2, 32, 25, 5, 16 (một phần của chương này), 56, 57, 55, 44, 40, 9.
- Nhóm B thứ hai (thẻ tre dài tầm 30,6cm) bao gồm các chương 59, 48 (một phần của chương này), 20 (một phần của chương này), 13, 41, 52 (một phần của chương này), 45, 54.
- Nhóm C thứ ba (thẻ tre dài tầm 26,5cm) bao gồm các chương 17, 18, 35, 31 (một phần của chương này), 64 (một phần của chương này).
Về mặt khối lượng, các thẻ tre chỉ chứa hai phần năm so với các bản H và W, và có thể so sánh với 31 chương của H và W; các chương từ 67 đến 81 của H và W hoàn toàn vắng mặt.

Liệu các thẻ tre này có chứa văn bản hoàn chỉnh của Lão Tử được biết đến vào thời đó hay không, hay các chương 67-81 của H và W vắng mặt vì những lý do khác ? Hiện không thể kết luận dứt khoát. Không thể loại trừ khả năng rằng « Lão Tử Trúc Giản » thực sự là các phần của tác phẩm gốc vào cuối thời kỳ Xuân Thu (770 – 476 TCN).
(ndlr : Ba nhóm A,B, C này thực ra là ba cuộn riêng biệt, được viết trên những cuộn thẻ tre có kích thước khác nhau. Tuy nhiên, chúng thường được xếp chung dưới tên “Lão Tử” vì toàn bộ nội dung của chúng (trừ phần “Thái nhất sinh thủy”) đều tương ứng với các đoạn trong Lão Tử hay Đạo Đức Kinh được truyền lại ngày nay. Các đoạn này, chỉ có một đoạn trùng lặp giữa ba bản, được sắp xếp theo trình tự rất khác so với bản Đạo Đức Kinh quen thuộc. Nếu gộp lại, chúng chiếm khoảng 40% nội dung của bản văn truyền thống (tương đương 31 chương trong tổng số 81), và bên trong mỗi đoạn lại có khá nhiều khác biệt, từ nhỏ đến lớn. Hiện nay, mối quan hệ giữa những bản này và bản Đạo Đức Kinh hiện có vẫn là một câu hỏi mở: chúng có thể là những phần trích từ một văn bản lớn hơn, tức là một dạng Đạo Đức Kinh sơ khai đã tồn tại trước đó, hoặc chính chúng là tư liệu gốc từ đó văn bản hoàn chỉnh về sau mới được hình thành. Cũng như bản Đạo Đức Kinh truyền thống, nội dung của ba văn bản này xoay quanh các chủ đề như “vô vi”, “tri túc” (biết đủ), và lợi ích chính trị của những thái độ này đối với sự hài hòa xã hội cũng như sự bền vững của quyền lực thống trị. Mặc dù “Lão Tử Trúc giản” chỉ chiếm một phần trong tổng thể Đạo Đức Kinh ngày nay, từng đoạn riêng lẻ trong đó dường như đều hoàn chỉnh. Ngoài trừ nhóm C, tất cả các cuộn khác được viết liền mạch từ thẻ tre này sang thẻ tre khác, không có đoạn nào bị ngắt quãng giữa câu hoặc bắt đầu đột ngột ở giữa một thẻ. Trong giới học giả Trung Quốc, các chuyên gia gạo cội như Lý Học Tần và Cao Minh, Vương Bá ủng hộ khả năng « Lão Tử Trúc giản » là một tuyển tập trích dẫn từ Đạo Đức Kinh. Họ cho rằng mỗi nhóm (trừ “Thái Nhất Sinh Thủy”) có chủ đề rõ ràng, chứng tỏ chúng là tuyển tập độc lập phục vụ mục đích cụ thể, có lẽ là dạy học. Cụ thể: Nhóm A chia đôi phần về nghệ thuật trị quốc và tu Đạo; nhóm B tập trung phương pháp, thái độ, mục tiêu tu Đạo; nhóm C trị quốc bằng vô vi và tự nhiên.)
Những khác biệt về nội dung đặc biệt dễ nhận thấy giữa các thẻ tre so với các bản H và W. Các khác biệt này liên quan đến nhiều phương diện: mức độ cổ xưa và độ giản dị trong ngôn ngữ, cấu trúc câu chưa hoàn chỉnh, cũng như ý nghĩa sâu xa và sơ khai được biểu đạt trong từng chữ và từng câu của văn bản. Điều đáng chú ý là các đoạn văn bản đề cập đến giáo lý Khổng Tử trong H và W vắng mặt trong các thẻ tre.
Ví dụ trong chương 19 của H và W có viết:« Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội« (Dứt thánh bỏ trí, dân lợi gấp trăm). Các thẻ tre viết khác: « Tuyệt trí khí biện, dân lợi bách bội » (Bỏ trí và hùng biện thì dân lợi gấp trăm.’ Trong số các chương khác của H và W có đối chiếu với giáo lý Khổng Tử là chương 38: « Cố thất Đạo nhi hậu Đức. Thất Đức nhi hậu Nhân. Thất Nhân nhi hậu Nghĩa. Thất Nghĩa nhi hậu Lễ. Phù Lễ giả, trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ. » (Cho nên mất Đạo thì đến Đức. Mất Đức thì đến Nhân. Mất Nhân thì đến Nghĩa. Mất Nghĩa thì đến Lễ. Mà Lễ là trung tín đã đi đến chỗ mỏng manh, và là đầu mối loạn lạc.) Chương 5 của H và W viết:« Thiên địa bất nhân », « Thánh nhân bất nhân »; chúng ta không tìm thấy những đoạn này và các chỗ tương tự khác trong những thẻ tre này. Trong phiên bản cổ nhất được biết đến của Lão Tử, « nhân » và « nghĩa » không bị chỉ trích. Những câu như « Tuyệt thánh khí trí » có lẽ đã được các nhà Đạo sĩ viết lại trong những lần chỉnh lý sau này với các học phái Nho gia.
Khi xem xét mức độ liên kết giữa các thẻ tre khác tìm thấy trong mộ Quách Điếm, người ta có thể nhận thấy một số đoạn “Lão Tử Trúc Giản” có thể đã được cố ý chỉnh sửa để giảm bớt hoặc loại bỏ những mâu thuẫn hiển nhiên với các cuộn thẻ tre mang màu sắc Nho gia trong cùng bộ sưu tập (trong cùng ngôi mộ). Cách làm này giúp cho các cuộn thẻ tre khác nhau có thể hòa hợp trong một hệ thống tư tưởng rộng hơn, nơi chúng cùng diễn đạt những khía cạnh khác nhau của một triết lý chung, điều này đặc biệt hữu ích trong bối cảnh giáo dục hoặc truyền dạy tư tưởng (do ngôi mộ này có khả năng là mộ của thầy dạy cho hoàng thái tử). Nhà nghiên cứu Chu Phong Vũ là một trong số những người ủng hộ quan điểm này. Ông cho rằng sự xuất hiện của những văn bản “Đạo gia” trong nhóm này nhằm củng cố hệ thống triết học Nho gia, bằng cách bổ sung nền tảng siêu hình học cho tư tưởng ấy.
Trong một số phần về chiến lược chính trị và mưu lược vương đạo, sự khác biệt cũng được ghi nhận giữa thẻ tre và các văn bản mới hơn của H và W. Những cách hiểu cũ về đạo đức người cầm quyền giờ được nhìn nhận theo góc nhìn hoàn toàn mới.. Trong các văn bản mới, ví dụ chương 65: ‘Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc. Bất dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc’ (Dân mà khó trị chính là vì nhiều trí mưu. Cho nên dùng trí trị nước chính là phá nước; không dùng trí trị nước tức là phúc cho nước.), và trong chương 3: ‘Thị dĩ thánh nhân chi trị, hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử dân vô tri vô dục. » (Vì vậy phép trị nước của thánh nhân là làm cho dân: Trống lòng; No dạ; Yếu chí; Mạnh xương. Thường khiến cho dân không biết, không ham), và trong chương 36: ‘Quốc chi lợi khí, bất khả dĩ thị nhân’ (đồ quốc bảo chẳng nên phô trương). Tất cả những phần này đều vắng mặt trong thẻ tre.
Chương 60 của H và W về thần linh và Thượng đế nêu rằng: « Dĩ đạo lỵ thiên hạ. Kỳ quỉ bất thần. Phi ký quỉ bất thần, kỳ thần bất thương nhân. » (Lấy Đạo trị thiên hạ, quỉ thần hết linh. Không phải quỉ thần không linh, nhưng quỉ thần không làm hại người). Việc câu này cũng không có trong thẻ tre có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách chúng ta đang hiểu Đạo gia. Cuối cùng, cũng không có đề cập đến một xã hội lý tưởng hay« Tiểu quốc quả dân » (Quốc nhỏ dân ít), như chúng ta thấy trong chương 80 của H và W: « Lân quốc tương vọng. Kê khuyển chi thanh tương văn. Dân chí lão tử, bất tương vãng lai. » (Nước gần, thấy nhau, gà kêu chó cắn đều nghe, dân đến già chết chẳng lui tới nhau.)
Nếu « Lão Tử Trúc giản » này đúng thật là bản sao của một văn bản gốc của Lão Tử, thì chúng cho chúng ta thấy một Lão Tử khác biệt và cổ hơn, người kết hợp « trí » với « nhân » là một, với « nghĩa » là hai; một Lão Tử phác họa hình ảnh một người cai trị là một cố vấn tốt, một Lão Tử không nói về thần hay linh, và cũng không mơ về một xã hội lý tưởng ‘quốc nhỏ dân ít’. Bản Lão Tử viết trên tre này gần với chân dung thực sự của nhân vật lịch sử Lão Tử hơn những văn bản sau này. Qua đó, nó thể hiện tinh thần « Đạo » chân chính hơn, cái « Đạo » do chính Lão Tử sáng tạo ra.
Các thẻ tre Quách Điếm cũng bao gồm văn bản ‘Thái Nhất sinh Thủy’. Văn bản này được tìm thấy cùng với « Lão Tử Trúc Giản » trong lăng mộ Quách Điếm. Bao gồm 14 thẻ tre và 306 ký tự. Chữ viết và hình thức giống như trong quyển thứ ba (C) của « Lão Tử Trúc Giản ». Việc tác giả của các văn bản này có giống nhau hay không thì khó xác định. Dù sao, nội dung về vũ trụ luận và đạo đức học cũng rất phù hợp với cốt lõi tư tưởng của Lão Tử và đại diện cho một văn bản độc lập chưa từng được biết đến. (ndlr: Văn bản này có lẽ thuộc cùng một cuộn thẻ tre với nhóm C và có thể nên được xem như một phần của cùng một tác phẩm. Nội dung tự nhiên chia thành hai phần, thậm chí có học giả còn cho rằng đó là hai văn bản độc lập. Phần đầu trình bày một vũ trụ luận độc đáo, trong đó “Thái Nhất” sinh ra nước, và qua một quá trình sinh hóa lẫn nhau, lần lượt tạo ra Trời, Đất cùng các lực lượng mang tính nhị nguyên khác, cuối cùng dẫn đến chu kỳ của bốn mùa. Đây được xem là hình thức vũ trụ luận sớm nhất mà chúng ta biết đến.)
- Thông tin về Lão Tử rất ít ỏi. Chúng ta chủ yếu biết qua « Sử ký » của Tư Mã Thiên (khoảng 145-135 TCN):
Lão Tử sinh tại làng Khúc Nhân, họ Lý, tên Nhĩ, tên tự là Bá Dương, tên thụy là Đam. Ông từng làm quan thủ thư (giữ sách sử, nghi lễ) ở thư viện triều Chu thời Chu Linh Vương – Chu Cảnh Vương (571-476 TCN). Khi Khổng Tử đến nước Chu, có truyền thuyết rằng ông đã thỉnh giáo Lão Tử về đạo đức và lễ nghi. Dù đa số học giả hiện đại nghi ngờ về mốc thời gian này, họ vẫn không thống nhất được nên đặt thời gian viết « Đạo Đức Kinh » vào lúc nào, thậm chí có người còn ngược đời cho rằng tác phẩm được viết sau thời Trang Tử (khoảng 365–285 TCN). Việc khai quật hai bản Lão Tử hoàn chỉnh ở Mã Vương Đôi (đầu thời Hán) cũng chẳng giải quyết được gì, chỉ chứng minh rằng tác phẩm đã đạt hình thức gần như cố định trước thời Tần Thủy Hoàng thống nhất.
Nhưng nay với ba cuộn thẻ trẻ này, chứa tổng cộng khoảng 1/3 nội dung Đạo Đức Kinh, ta có thể khẳng định rằng ít nhất một phần lớn của văn bản này chắc chắn được viết trước cả những chương Trang Tử đầu tiên. ↩︎ - 荊門博物館:《郭店楚墓竹簡》。北京:文物出版社,1998 年。
Jingmen Museum ed.: The Bamboo Slips of the Chu-Grave in Guodian. Beijing: Wenwu Publ., 1998. ↩︎ - 馬王堆漢墓帛書整理小組:《馬王堆漢墓帛書》(壹)。北京:文物出版1 年。
[S1]
The Silk texts from the Han Tombs in Mawangdui (1). Beijing: Wenwu Verlag, 1980.
河上公:《道德真經注》。上海涵芬樓影印《道藏》知一——知四。[S2]
He Shanggong, ed..: Comments of Dao De Zhen Jing from Han Dynastie (2o6 B.C. -220 B.C.), in:
Dao Zang, Zhi 1-4. Shanghai: Hanfenlou. ↩︎ - 河上公:《道德真經注》。上海涵芬樓影印《道藏》知一——知四。[H]
He Shanggong, ed..: Comments of Dao De Zhen Jing from Han Dynastie (2o6 B.C. -220 B.C.), in:
Dao Zang, Zhi 1-4. Shanghai: Hanfenlou. ↩︎ - 王弼:《道德真經注》。上海涵芬樓影印《道藏》得三——得六。[W]
Wang Bi, ed.: Comments of Dao De Zhen Jing. from Wei-Dynastie (220-265), in: Dao Zang, De 3-6.
Shanghai: Hanfenlou. ↩︎


