Chi Nghiễn Trai là ai? Vì sao nhân vật bí ẩn này lại quan trọng với Hồng Lâu Mộng?

Trong Hồng Lâu Mộng, có những nhân vật hiện ra bằng xương bằng thịt: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Sử Tương Vân. Nhưng bên ngoài trang sách, lại có một cái tên lúc ẩn lúc hiện, không bước hẳn vào tiểu thuyết mà cũng không đứng hẳn ngoài tiểu thuyết: Chi Nghiễn Trai.

Đối với người đọc phổ thông, Chi Nghiễn Trai có thể chỉ là một cái tên lạ. Nhưng trong Hồng học, đây là cái tên gần như không thể né tránh. Bởi những bản Thạch Đầu Ký có lời phê của Chi Nghiễn Trai, thường gọi là “Chi bản”, “Chi bình bản” hay “Chi phê bản”, là một trong những đầu mối quan trọng nhất để lần ngược về diện mạo ban đầu của Hồng Lâu Mộng.

Các bản thường được nhắc đến nhiều nhất gồm Giáp Tuất bản, Kỷ Mão bản và Canh Thìn bản. Tư liệu Hồng học Trung Quốc thường ghi Giáp Tuất bản thuộc năm Càn Long thứ 19, tức 1754; Kỷ Mão bản thuộc năm 1759; Canh Thìn bản thuộc năm 1760. Những bản này không chỉ có phần truyện, mà còn có các lời phê xen giữa dòng, trên đầu trang, bên lề, hoặc sau hồi truyện. Chính lớp lời phê ấy khiến Thạch Đầu Ký không còn là một văn bản “trơn”, mà trở thành một di cảo sống, nơi ta còn nhìn thấy dấu vết của người viết, người đọc, người sửa, người chép và người khóc cho cuốn sách.

Trong lịch sử Hồng học hiện đại, Giáp Tuất bản có vị trí đặc biệt. Hồ Thích từng coi việc phát hiện bản Chi Nghiễn Trai Giáp Tuất là một phát hiện có tính bước ngoặt của “tân Hồng học”; theo ông, trước khi thấy bản này, giới nghiên cứu chưa thật sự biết “nguyên bản” Hồng Lâu Mộng có thể trông như thế nào, còn sau đó mới có một tiêu chuẩn để đi tìm những bản gần với diện mạo ban đầu hơn.

Điều đáng chú ý là Chi Nghiễn Trai không giống kiểu người đời sau đọc một tác phẩm đã hoàn tất rồi viết lời bình. Lời phê của Chi Nghiễn Trai nhiều chỗ cho thấy người phê biết rất gần với Tào Tuyết Cần, biết quá trình viết sách, biết những phần bản thảo đã mất, thậm chí biết cả các tuyến truyện ở hậu bán bộ mà bản 120 hồi lưu hành ngày nay không còn giữ nguyên. Một số thư mục và bản văn hiện nay vẫn quy Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch Đầu Ký cho Tào Tuyết Cần viết, Chi Nghiễn Trai phê, đồng thời tập hợp các hệ Giáp Tuất, Kỷ Mão, Canh Thìn để đối chiếu văn bản và lời phê.

Vậy Chi Nghiễn Trai là ai?

Đây là một trong những câu hỏi dai dẳng nhất của Hồng học. Có thuyết cho rằng Chi Nghiễn Trai là chú hoặc bậc trưởng bối của Tào Tuyết Cần, dựa vào ghi chép của Dụ Thụy trong Tảo Song Nhàn Bút, nơi có câu từng thấy các bản chép đều có lời phê của “người chú Chi Nghiễn Trai”. Có thuyết xem Chi Nghiễn Trai là một bút danh hoặc một hóa thân của chính tác giả. Lại có thuyết cho rằng Chi Nghiễn Trai là một phụ nữ cực kỳ thân thiết với Tào Tuyết Cần, thậm chí có liên hệ với nguyên mẫu Sử Tương Vân. Cho đến nay, không có thuyết nào được toàn bộ giới nghiên cứu chấp nhận như kết luận cuối cùng.

Nhưng chính vì chưa có kết luận cuối cùng, Chi Nghiễn Trai mới trở nên hấp dẫn. Nhân vật này giống như một vết mực chưa khô ở mép bản thảo: càng nhìn kỹ, càng thấy nó không chỉ là lời bình, mà còn là dấu vết của một đời sống đã mất.

Trong số các học giả bàn về Chi Nghiễn Trai, Chu Nhữ Xương là người đưa ra một cách nhìn rất táo bạo. Ông không chỉ xem Chi Nghiễn Trai là người phê sách, mà còn xem đó là người đứng rất gần trung tâm sáng tác của Hồng Lâu Mộng. Với Chu Nhữ Xương, Chi Nghiễn Trai không phải “độc giả”, mà là tri âm. Không phải kẻ đứng ngoài tán thưởng, mà là người ở sát bên cạnh bản thảo.

Đoạn dưới đây là lời Chu Nhữ Xương nói trong Bách Gia Giảng Đàn:

Chi Nghiễn Trai là người đã định ra đại danh cuối cùng của cuốn sách này: « Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch Đầu Ký ». Đó là tên sách được định. Tên ấy được định vào năm Giáp Tuất đời Càn Long, tức năm Càn Long thứ 19. Điều đó có nghĩa là Tào Tuyết Cần đồng ý lấy phần phê của Chi Nghiễn Trai làm một bộ phận cấu thành tác phẩm vĩ đại này. Đây là bản có phê, là định bản chính thức của « Thạch Đầu Ký ». Bản không có phê vẫn là bản thảo thời kỳ đầu; nên hiểu như vậy. Chỉ riêng điểm này, các vị thử nghĩ xem, địa vị của Chi Nghiễn Trai có quan trọng hay không? Quá quan trọng. Không phải như Kim Thánh Thán phê « Thủy Hử truyện », người đời sau đọc rồi cảm khái, cảm tưởng, viết lên sách. Không phải. Đây là hai người cùng thời, quan hệ cực kỳ mật thiết: anh bên kia viết, tôi bên này phê, sự việc là như thế. Lời phê là bộ phận cấu thành thật sự của « Hồng Lâu Mộng »; điểm này tuyệt đối đừng quên. Nó không phải văn phụ thêm, không phải thứ có cũng được không có cũng được.

Điểm thứ hai, tôi nhìn từ khẩu khí của họ: quan hệ của họ quá thân thiết, không phải họ hàng thông thường. Trong rất nhiều lời phê, điểm nhìn và giọng điệu cảm tưởng đều là từ lập trường của một phụ nữ, của nữ giới. Điểm này cũng rất rõ. Vậy chuyện ấy là thế nào? Tìm trong sách sẽ thấy: ở một dịp nào đó, người phê viết rằng tôi cũng có mặt. Phương Quan kêu nóng, tôi ở đây cũng muốn cởi áo. Đây là ai? Tìm những điểm tương tự như vậy, nhiều điểm ghép khít lại với nhau, thì đó là Sử Tương Vân, nguyên mẫu của Sử Tương Vân. Sử Tương Vân đến hồi hai mươi mới xuất hiện, hồi ba mươi mốt lại xuất hiện; trước đó không nhắc một chữ. Sử Tương Vân này là nhân vật của nửa sau tác phẩm. Hiểu chưa? Vì vậy Chi Nghiễn Trai nói: « Sách chưa thành, Cần… » Một chữ gọi là « Cần »; đó là một khẩu khí như thế nào? Tôi mới gọi là Tuyết Cần thôi mà đã có người bắt bẻ rằng nên nói đầy đủ là Tào Tuyết Cần. Vậy mà Chi Nghiễn Trai chỉ gọi là « Cần »: « Sách chưa thành, Cần vì lệ cạn mà mất; ta từng khóc Cần, mà lệ còn chờ cạn. » Quan hệ gì mới có thể nói như vậy? « Mong tạo hóa chủ, Thượng đế, lại sinh ra một Cần, một Chi; hai chúng ta ở dưới chín suối cũng được hả lòng. » Đây là lời gì vậy? Tôi xin nói thật với các vị: nếu không phải quan hệ vợ chồng, làm sao có thể nói như thế?

Điều này lại đúng khớp với rất nhiều ghi chép. Chân bản của « Hồng Lâu Mộng » không phải bản một trăm hai mươi hồi đã bị Cao Ngạc sửa đổi ấy. Sau hồi bảy mươi tám, tình tiết hoàn toàn khác bản ngày nay. Phần sau, Tương Vân và Bảo Ngọc nghèo hèn đến mức gần như thành ăn mày; cuối cùng qua nghìn khó muôn khổ, bỗng lại gặp nhau, kết làm vợ chồng. Trong thơ điếu của Đôn Thành, Đôn Mẫn có một chữ « tân phụ »; nói Tào Tuyết Cần mất rồi, « tân phụ phiêu linh, mắt há khép yên », lại có một « tân phụ » nữa. Tào Tuyết Cần chết rồi vẫn nhắm mắt không yên, vậy người ấy là ai? Tổng hợp các manh mối ấy lại, tôi mới nêu ý kiến thô thiển của mình: Chi Nghiễn Trai chính là người giúp đỡ, thậm chí nhắc nhở Tào Tuyết Cần rằng đừng để bản thảo chỉ dừng ở cái hướng « Phong Nguyệt Bảo Giám » ấy, hãy viết về phụ nữ chúng ta. Rất nhiều người viết về đàn ông; « Thủy Hử truyện » viết về cường đạo, viết đám tu mi nam tử mở quán đen, ăn thịt người. Chi Nghiễn Trai có công lớn: giúp ông chỉnh lý, chép lại, đối chiếu. Công lao của người này quá lớn, mà rất nhiều khẩu khí của người ấy là nữ giới. Tôi cho rằng, nói đơn giản thôi, cũng đã nói quá nhiều rồi: thứ nhất, bà là nhân vật trong sách; thứ hai, bà là phụ nữ; thứ ba, quan hệ luân lý giữa bà và Tào Tuyết Cần thân mật vô cùng, hoàn toàn không thể tách rời khỏi sự nghiệp sáng tác văn học của ông. Xin cảm ơn.

Sức nặng của đoạn này không nằm ở chỗ nó “giải quyết” xong câu hỏi Chi Nghiễn Trai là ai. Sức nặng của nó nằm ở chỗ Chu Nhữ Xương đặt Chi Nghiễn Trai trở lại đúng vị trí lợi hại nhất: sát cạnh Tào Tuyết Cần, sát cạnh bản thảo, sát cạnh những phần đã mất của Hồng Lâu Mộng.

Nếu đọc Chi bình như một lớp văn bản phụ, ta sẽ chỉ thấy vài lời ghi chú. Nhưng nếu đọc nó như một phần của đời sống bản thảo, ta sẽ thấy một chuyện khác: Hồng Lâu Mộng không phải ngay từ đầu đã là cuốn tiểu thuyết 80 + 40 hồi ổn định như bản in ngày nay. Nó từng là Thạch Đầu Ký, từng được truyền chép, phê điểm, sửa đổi, thất lạc, bổ khuyết. Trong quá trình ấy, Chi Nghiễn Trai là người để lại một trong những dấu vết gần nhất với bản thảo ban đầu.

Chính các Chi bản cũng cho thấy lịch sử văn bản của Hồng Lâu Mộng phức tạp hơn nhiều so với cách đọc thông thường. Bản Giáp Tuất chỉ còn 16 hồi, nhưng lại được xem là tư liệu quý vì cổ, vì có nhiều lời phê, và vì có những đoạn văn bản riêng mà các bản khác không có. Một bài khảo về Giáp Tuất bản trên Trung Quốc Tác Gia Võng cho biết bản này từng do Hồ Thích cất giữ, có bốn sách, còn lưu dấu đề bút của Hồ Thích, Lưu Thuyên Phúc, Du Bình Bá; bài cũng nhấn mạnh giá trị văn hiến của nó trong nghiên cứu Hồng Lâu Mộng.

Vì thế, tranh luận về Chi Nghiễn Trai không phải chuyện bên lề. Nó liên quan trực tiếp đến ba câu hỏi lớn của Hồng học.

  • Một là: bản gốc của Hồng Lâu Mộng từng có diện mạo như thế nào?
  • Hai là: phần sau của tác phẩm đã thất lạc, bị sửa đổi hay được người khác bổ viết đến mức nào?
  • Ba là: những nhân vật trong sách có liên hệ ra sao với đời thật của Tào Tuyết Cần?

Ở cả ba câu hỏi ấy, Chi Nghiễn Trai đều xuất hiện như một nhân chứng không thể thẩm vấn đến cùng. Ta đọc được lời phê, nhưng không nhìn thấy mặt người phê. Ta nghe được giọng điệu, nhưng không chắc đó là nam hay nữ. Ta thấy người ấy biết quá nhiều, thương quá sâu, can dự quá gần, nhưng lại không thể đóng đinh danh tính bằng một hồ sơ rõ ràng.

Bởi vậy, Chi Nghiễn Trai hấp dẫn hơn một “ẩn danh văn học” thông thường. Đây là một cái bóng có tri thức, có ký ức, có tình cảm. Cái bóng ấy đi bên cạnh Tào Tuyết Cần, để lại dấu tay trên Thạch Đầu Ký, rồi biến mất vào lịch sử văn bản.

Có thể không cần vội tin hoàn toàn vào một giả thuyết. Chi Nghiễn Trai có thể là chú của Tào Tuyết Cần, có thể là một người thân trong gia tộc, có thể là bạn văn, có thể là một phụ nữ cực kỳ thân thiết, cũng có thể là một danh xưng phức tạp hơn một cá nhân đơn nhất. Nhưng điều chắc chắn là: nếu không có Chi Nghiễn Trai, cách chúng ta hiểu Hồng Lâu Mộng sẽ nghèo đi rất nhiều.

Bởi Chi Nghiễn Trai không chỉ giúp ta đọc câu chữ. Chi Nghiễn Trai giúp ta nhìn thấy sau câu chữ là một bản thảo đang thành hình, một tác giả đang viết giữa máu lệ, một người tri âm đang đọc ngay khi tác phẩm còn chưa kịp hoàn tất.

Và có lẽ đó mới là lý do cái tên Chi Nghiễn Trai sống dai đến vậy trong Hồng học. Không phải vì ta đã biết chắc người ấy là ai, mà vì ta càng đọc Hồng Lâu Mộng, càng thấy người ấy không thể là một người ngoài cuộc.

Hiện nay Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu ký (phiên bản Hồng Lâu Mộng 80 hồi, có lời phê của Chi Nghiễn trai và Ky Hốt Tẩu) đang được dịch ra tiếng Việt, các bạn có thể tham khảo tại đây

Quý Dậu Bản Thạch Đầu Ký: Cuốn Sách Bí Ẩn Tự Xưng Là 28 Hồi Cuối Thật Của Hồng Lâu Mộng
[Hồng Lâu Mộng] Hai phủ Ninh - Vinh có cứu được không? Phượng Thư, tài chính và bi kịch “biết mà không cứu nổi”
    Anh

    Anh est franco-vietnamienne et a vécu dans de nombreux pays (Russie, Australie, France, Norvège, Vietnam). Elle aime par dessus tout les chats, le DIY et la bonne cuisine. Ayant une très bonne mémoire, Anh est capable de vous donner le tarif du petit bus pris entre le Chili et la Bolivie qu'elle a pris il y a 3 ans.

    Tous Mes Articles
    Write a comment

    Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.